ca-phe-hat-70

Cà Phê Arabica là gì?

Cà phê Arabica có tên quốc tế là Cofea Arabica, là chi cà phê có lá nhỏ, cây thấp nhìn tựa như cây chè, một loại cây công nghiệp phổ biến ở Việt Nam nên thường được gọi theo kiểu thuần Việt là Cà Phê Chè. Arabica có 2 chi ở Việt Nam là Cà Phê Moka và Catimor.

Cà phê Arabica phù hợp với khí hậu ở vùng núi cao, thường là ở độ cao từ 1000 đên 1500m so với mực nước biển. Nhiệt độ phù hợp nhất với cây Arabica dao động từ 16-25°C. Cây có tán là nhỏ, lá màu xanh đậm và có hình Oval. Trái Arabica hình bầu dục, mỗi trái thường có hai nhân trong 1 hạt, ngoài ra cũng có những hạt bị đột biến được gọi là Culi Arabica nhưng số lượng rất nhỏ. Cây trưởng thành có thể có độ cao khoảng 6, nếu mọc hoang dại có thể đạt mức 14-15m.

cây cà phê 13Sauk hi hạ cây con thì sau 3-4 năm cây bắt đầu cho thu hoạch còn gọi là hái bói và cho thu hoạch liên tiếp từ 20- 25 năm sau đó. Cây có thể sống đến 100 năm tuổi nhưng năng suất không cao. Cà phê Chè là loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao trong các loại cà phê và nó chiếm khoảng 61% sản lượng cà phê trên toàn thế giới. Các quốc gia trồng và xuất khẩu Arabica nhiều nhất phải kể đến Brazil và Colombia, ngoài ra còn có Ethiopia, Mexico, Guatemala, Honduras, Peru, Ấn Độ.

Arabica được đánh giá cao hơn về giá trị thậm chí là gấp đôi so với Robusta (Còn gọi là cofea Robusta hoặc Cofea Canephora) bởi hương vị của nó. Arabica chưa ít hơn hàm lượng caffeine và vị thì thơm ngon hơn.

cây cà phêỞ Việt Nam, Diện tích gieo trồng cà phê Arabica còn hạn chế, do độ cao ở nước ta chưa phù hợp, những vung chuyên canh cà phê nổi tiếng của Việt Nam như Đăk Lak, Lâm Đồng đều chỉ có độ cao từ 500 – 1000m so với mực nước biển, nên loại cây này gặp nhiều sâu bệnh hại nên khó trồng hơn so với cây cà phê Robusta. Cà phê Arabica được đánh giá là chất lượng chỉ ở một số vùng như Cầu Đất, Trạm Hành thuộc xã Xuân Trường của tỉnh Lâm Đồng, và một số vùng như Điện Biên, Khe Sanh, Quảng Trị…

Việt Nam là quốc gia xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới, nhưng lượng cà phê xuất đi thường là cà phê robusta nhân thô, nên giá trị về kinh tế chưa cao. Thực tế, có rất nhiều loại cà phê, nhưng chỉ Cà Phê Robusta và Cà Phê Arabica là 2 loài có giá trị về mặt kinh tế mà thôi.

sản phẩm cà phê hạt nguyên chất

Cà Phê Culi là gì?
ca-phe-10

Cây Cà Phê Robusta

Trên thế giới có nhiều loại cây Cà Phê và hôm nay, trong bài đầu tiên trong loạt bài về các loại cây cà phê, hạt cà phê và quy trình sản xuất cà phê hạt nguyên chất. Xin giới thiệu cây cà phê Robusta, một loại cà phê chiếm hơn 90% diện tích gieo trồng ở Viêt Nam, và nước ta cũng là một trong những quốc gia xuất khẩu cà phê Robusta nhiều nhất thế giới.

1.Nguồn gốc  cây cà phê Robusta:

Cà phê Robusta hay còn gọi là coffea Robusta là loại cây cà phê quan trong thứ 2 trên thế giới sau Arabica. Chúng được phát hiện mọc hoang dã ở các cánh rừng trên cao nguyên của Ethiopia, Tây và Trung Phi, trải dài từ Liberia, Tanzania cho đên miền nam Angola. Nhưng chỉ đến những năm 1897, Robusta mới được công nhận là một chi của loài Coffea và được tự nhiên hóa tạo các nước thuộc địa Pháp, Costa Rica, Jamaica…

Hiện nay, loại coffea Robusta đã được gieo trồng phổ biến ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, Indonesia, India, Malaysica,.. Bralzil cũng đang rộ lên với sản lượng café Robusta tăng đột biến thời gian gần đây. Ở Brazil Robusta được gọi là Conilon.

2. Cà phê Robusta ở Việt Nam

ca-phe-03Lần đầu tiên cà phê được đưa vào Việt Nam vào năm 1875, giống Arabica được người Pháp mang từ đảo Bourton sang trồng ở phía Bắc sau đó lan ra các tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Bố Trạch, … Sau thu hoạch chế biến dưới thương hiệu “Arabica du Tonkin”, cà phê được nhập khẩu về Pháp.

Sau khi chiếm nước ta, thực dân Pháp thành lập các đồn điền cà phê như Chinê, Xuân Mai, Sơn Tây chúng canh tác theo phương thức du canh du cư nên năng suất thấp giảm từ 400 – 500kg/ha những năm đầu xuống còn 100 – 150 kg/ha.

Để cải thiện tình hình, Pháp du nhập vào nước ta hai giống mới là cà phê vối (C. robusta) và cà phê mít (C. mitcharichia) vào năm 1908 để thay thế, các đồn điền mới lại mọc lên ở phía Bắc như ở Hà Tĩnh (1910), Yên Mỹ (1911, Thanh Hoá), Nghĩa Đàn (1915, Nghệ An). Thời điểm lớn nhất (1946 – 1966) đạt 13.000 ha.

Năm 1925, lần đầu tiên được trồng ở Tây Nguyên, sau giải phóng diện tích cà phê cả nước khoảng 20.000 ha, nhờ sự hỗ trợ vốn từ quốc tế, cây cà phê dần được chú trọng, đến năm 1980 diện tích đạt 23.000 ha, xuất khẩu trên 6000 tấn. Bản kế hoạch ban đầu được xây dựng năm 1980 đặt mục tiêu cho ngành cà phê Việt Nam có khoảng 180 nghìn ha với sản lượng 200 nghìn tấn. Sau đó, bản kế hoạch này đã nhiều lần sửa đổi. Các con số cao nhất dừng lại ở mức 350 nghìn ha với sản lượng 450 nghìn tấn (VICOFA, 2002).

3. Tên gọi và đặc điểm

Ở Việt Nam, Robusta còn có một tên gọi thuần nông dân là “ Cà Phê Vối”. Robusta chứa hàm lượng caffeine cao hơn cà phê Arabica nhưng về hương vị thì lại không tinh khiết bằng Arabica nên vẫn bị xếp ở vị thứ 2 sau cây cà phê Arabica.

ca-phe-hat-0904684089-28Robusta có dạng thân cây gỗ hoặc cây bụi, một cây trưởng thành có  thể có chiều cao lên đên 10m. Trái có hình tròn và nhỏ hơn hạt Arabica. Hàm lượng caffeine của Robusta trung bình khoảng 3% so với mức 1-2% của Arabica.

Sau khi gieo trồng, thông thường từ 2-3 năm cây sẽ cho thu hoạch lần đầu và cho hạt liên tục trong vòng 20-30 năm. Robusta thích hợp với khí hậu ở các vùng nhiệt đới, độ cao trung bình phù hợp nhất để cây phát triển là dưới 1000m so với mực nước biển. Nhiệt độ phù hợp là từ 24 – 29°C. Lượng mưa trung bình trong năm khoảng trên 1000mm.

cay-ca-phe-robusta-01Các Tỉnh Tây Nguyên là những nơi có diện tích trồng cà phê lớn nhất nước ta, đặc biệt là Buôn Mê Thuột. Trên diện tích lớn cà phê mới trồng Người nông dân phải trồng xen lẫn những hàng cây chắn gió cho cây cà phê, thường thì họ trồng cây muồng hoa vàng do khí hậu của Vùng Tây Nguyên vào mùa đông gió thổi rất mạnh công với độ cao cả ngàn m so với mực nước biển.

Sau vụ mùa thu hoạch, Những cành cà phê sau khi cho trái sẽ được cắt xén bớt để kích thích chồi cho vụ mùa năm sau. Nhân cà phê hạt lép, vỏ vụn có thể đem tái chế hoặc ủ và đem bón lại cho cây. Hạt cà phê Robusta sau khi được thu hoạch, sẽ được xay xát, phơi khô hoặc dùng phương pháp sơ chế khác như chế biến ướt, chế biến honey… rồi bắn màu… trước khi nhập kho hoặc rang xay.

sản phẩm cà phê hạt nguyên chất

Cây cà phê xuất hiện ở Việt Nam khi nào?
Địa chỉ mua Cà Phê Hạt Nguyên Chất Robusta ngon và uy tín.
ca-phe-hat-nguyen-chat-espresso-01

Cà phê Tây – cà phê Ta

Sự xuất hiện của trào lưu uống cà phê pha máy có thu hút được người tiêu dùng?

Trào lưu uống cà phê pha máy đang ngày càng phát triển với tốc độ không hề chậm, đồng thời tạo nên một xu hướng, một gu thưởng thức Café hoàn toàn mới thu hút đông đảo người tiêu dùng trong nước. Bằng chứng là những quán cà phê mang hơi hướng và phong cách Tây ngày càng nhiều, những thức uống gu Tây ngày càng trở nên thông dụng, số lượng các bạn trẻ đi học barista ngày càng đông, những hội – nhóm yêu thích và chia sẻ hình ảnh về cà phê pha máy chiếm sóng cũng khá nhiều trên mạng xã hội.

Cà phê pha máy là gì? 

Điều này có mang lại hiệu ứng tích cực?

Tất  cả mọi vấn đề, mọi xu thế đều có 2 mặt tích cực và tiêu cực. Sẽ là tích cực nếu đi đúng hướng và ngược lại. Bản thân chúng tôi là những người làm cà phê luôn phải có cái nhìn bao quát. Xin mạo muội đưa ra những quan điểm bên lề như sau:

1. Trào lưu và phát triển là tốt nhưng đừng tát nước theo mưa

Nghĩa là gì? Tất cả mọi giá trị tương hỗ luôn tốt hơn là cạnh tranh. Khi một trào lưu mới, một xu hướng, một hiện tượng mới xuất hiện thì việc anh em song sinh của nó cũng xuất hiện trên thị trường. Chính là việc người người đổ xô theo cái trào lưu đó. Việc cà phê pha máy xuất hiện và thu hút rất đông người tiêu dùng đặc biệt là các bạn trẻ thì xu thế 10 người có đến 9 người đi học barista, trong khi phân khúc này mới chỉ nằm ở giai đoạn tiềm năng mà thôi. Dẫn đến tình trạng quá tải, học xong không có việc làm hoặc làm không đúng sở trường, đam mê có, kiến thức có nhưng không phải ai cũng gặp thời. Việc cung vượt cầu – hệ quả là dư lao động.

lam-ca-phe-0904684089-cach-pha-ca-phe-phin-ngon-5

Cà phê hạt nguyên chất rang mộc – nguyên liệu chính của dòng cà phê pha máy.

2. Espresso là xu thế – nhưng cà phê phin là văn hóa, là truyền thống.

Mỗi một quốc gia,một dân tộc luôn mang trên mình bề dày của lịch sử và văn hóa. Cà phê là văn hóa thưởng thức, là truyền thống của người Việt. Khi tiếp nhận văn hóa cà phê phương tây thì cũng phải tôn trọng và bảo tồn văn hóa cà phê Phin của người Việt. Với việc những thông tin sai lệch như :” cà phê drip lọc sạch hơn, cà phê phin chẳng qua chỉ là lọc qua lớp màng, không lọc hết cặn chỉ vì bán drip coffee hay cà phê pha máy mới là cà phê tử tế, còn cà phê pha phin, cà phê có tẩm bơ, muối, rượu có nguồn gốc xuất xứ ( còn gọi là hóa thực phẩm công nghiệp) thì được cho là không tử tế và là cà phê bẩn”… Những thông tin, những quan điểm sai lệch như vậy mới thực sự là không tử tế và không công bằng với cà phê phin Việt Nam. Hội nhập nhưng đừng hòa tan, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhưng không được bỏ quên văn hóa truyền thống, đó là điều nên làm.

QUÝ ĐỐI TÁC MUỐN TÌM HIỂU VÀ PHÂN PHỐI SẢN PHẨM CÀ PHÊ HẠT SẠCH NGUYÊN CHẤT VUI LÒNG LIÊN HỆ PKD ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN 24/7 ! TRÂN TRỌNG CẢM ƠN VÀ MỜI HỢP TÁC!

dat-ca-phe-online-01dat-ca-phe-online-03

lam-ca-phe-0904684089-26

Các loại cà phê trên thế giới

1. Arabica
Là loại café hạt hơi dài, được trồng ở độ cao trên 600m, khí hậu mát mẻ, được trồng chủ yếu ở Braxin, và chiếm tới 2/3 lượng cà phê hiện nay trên thế giới.

Cách chế biến mới là điểm tạo ra sự khác biệt giữa Arabica và Robusta. Quả Arabica được thu hoạch, rồi lên men (ngâm nước cho nở…) rồi rửa sạch rồi sấy. Nên vị của Arabica hơi chua, và đây cũng được coi là 1 đặc điểm cảm quan của loại cà phê này. Vì thế, nói đến “hậu vị” của cà phê là có thật, nhưng không phải là vị chua, mà phải chuyển từ chua sang đắng (kiểu socola ý, sau khi nuốt mới là cà phê ngon). Người ta thường ví vị chua đó giống như khi mình ăn chanh, sẽ thấy rất chua, nhưng lập tức thấy được vị đắng của vỏ. Cách cảm nhận vị chua của cà phê cũng như vậy.

ca-phe-robusta-0904684089

2. Robusta
Hạt nhỏ hơn arabica, và được sấy trực tiếp, chứ không phải lên men, vị đắng chiếm chủ yếu, loại này uống phê hơn. Được trồng ở độ cao dưới 600m, khí hậu nhiệt đới, vì thế có mặt ở nhiều nước hơn (VN chỉ trồng loại này). Việt nam là cường quốc xuất khẩu cà phê đứng hàng thứ hai trên thế giới (sau Brazin) và phần lớn là robusta, tổng lượng chiếm 1/3 lượng café tiêu thụ trên toàn thế giới.

3. Culi
Là những hạt cà phê no tròn. Đặc biệt là trong một trái chỉ có duy nhất một hạt. Vị đắng gắt, hương thơm say đắm, hàm lượng cafein cao, nuớc màu đen sánh đó là những gì mà café Culi mang đến. Đó là quá trình kết hợp tinh túy của sự duy nhất.

4. Cherry
Cherry hay còn gọi là café mít gồm có 2 giống chính là Liberica và Exelsa. Loại này không được phổ biến lắm, nhưng đây là loại có khả năng chống chịu sâu bệnh rất tốt và năng suất rất cao. Được trồng ở những vùng đất khô đầy gió và nắng của vùng cao nguyên.

Cherry mang một đặc điểm và hương vị rất khác lạ của một loài cây trưởng thành dưới nắng và gió của Cao Nguyên. Hạt café vàng, sáng bóng rất đẹp. Khi pha tạo ra mùi thơm thoang thoảng, đặc biệt là vị chua của cherry tạo ra một cảm giác thật sảng khoái. Cherry rất thích hợp với sở thích của phái nữ với sự hòa quyện giữa mùi và vị tạo ra một cảm giác dân dã, cao sang quý phái hòa quyện nhau thât sâu sắc.

lam-ca-phe-hcm-0904684089-03

5. Moka
Moka là một loài café thuộc chi Arabica, được người Pháp di thực từ những năm 30 của thế kỉ trước, trồng ở Dalat, Lâm đồng. Trong các họ, giống café này khó trồng nhất, đòi hỏi công chăm sóc rất kỹ, dể bị sâu bệnh, cần có điều kiện môi trường lẫn kỹ thuận chăm bón đặc thù, nhưng năng xuất lại rất ít. Moka chỉ có thể sinh truởng và phát triển ở độ cao từ 1500m nên không trồng được ở Buôn mê Thuộc là thủ phủ của cà phê ở Việt nam.

Hằng năm nước ta xuất khẩu trên một triệu tấn cà phê hầu như phần lớn là Robusta trồng ở Buôn Mê thuột và một số tỉnh khác. Cho nên, ở Việt nam Moka là loại cà phê quí hiếm, luôn có giá cao hơn các loại khác. Có thể thấy, không có nhiều người giữa chúng ta có dịp thưởng Moka nguyên chất, dù trên thế giới tiêu thụ đến 80% café Arabica, Moka.

ca-phe-arabica-090468408

Càng lên cao, cộng thêm với điều kiện thổ nhưỡng, canh tác phù hợp thì hương vị và chất lượng của Moka càng tuyệt vời. Ở việt nam Cà phê Moka trồng ở Tỉnh Lâm Đồng với độ cao từ trên 1000m, nhưng chỉ ở vùng cầu đất thuộc Thành phố Đà Lạt với độ cao 1600m là cà phê Moka thơm ngon nhất.

Có thể nói Moka là hoàng hậu trong vương quốc cà phê, hạt moka lớn và đẹp hơn nhiều so với giống khác, hương thơm của nó rất đặc biệt, rất sang trọng, ngây ngất, vị hơi chua một cách thanh thoát, dành cho người sành điệu. Một khi đã vui hưởng được hương vị đích thực của Moka rồi, người ta sẽ luôn nhớ đến nó hơn bất kỳ loại café nào. Moka thơm quí phái và có vị đặc trưng là loại cà phê mà sự chọn lựa luôn nằm top hàng đầu của các nước Châu Âu và Mỹ.

Xem thêm:

ca-phe-02

Cây cà phê xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam khi nào?

Lịch sử

Lần đầu tiên cà phê được đưa vào Việt Nam vào năm 1875, giống Arabica được người Pháp mang từ đảo Bourton sang trồng ở phía Bắc sau đó lan ra các tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Bố Trạch, … Sau thu hoạch chế biến dưới thương hiệu “Arabica du Tonkin”, cà phê được nhập khẩu về Pháp.

ca-phe-26Sau khi chiếm nước ta thực dân Pháp thành lập các đồn điền cà phê như Chinê, Xuân Mai, Sơn Tây chúng canh tác theo phương thức du canh du cư nên năng suất thấp giảm từ 400 – 500 kg/ha những năm đầu xuống còn 100 – 150 kg/ha khi càng về sau.

Để cải thiện tình hình, Pháp du nhập vào nước ta hai giống mới là cà phê vối (C. robusta) và cà phê mít ( C. mitcharichia) vào năm 1908 để thay thế, các đồn điền mới lại mọc lên ở phía Bắc như ở Hà Tĩnh (1910), Yên Mỹ (1911, Thanh Hoá), Nghĩa Đàn (1915, Nghệ An). Thời điểm lớn nhất (1946 – 1966) đạt 13.000 ha.

Tây Nguyên, Thủ phủ của cà phê

ca-phe-10Năm 1925, lần đầu tiên được trồng ở Tây Nguyên, sau giải phóng diện tích cà phê cả nước khoảng 20.000 ha, nhờ sự hỗ trợ vốn từ quốc tế, cây cà phê dần được chú trọng, đến năm 1980 diện tích đạt 23.000 ha, xuất khẩu trên 6000 tấn. Bản kế hoạch ban đầu được xây dựng năm 1980 đặt mục tiêu cho ngành cà phê Việt Nam có khoảng 180 nghìn ha với sản lượng 200 nghìn tấn. Sau đó, bản kế hoạch này đã nhiều lần sửa đổi. Các con số cao nhất dừng lại ở mức 350 nghìn ha với sản lượng 450 nghìn tấn (VICOFA, 2002).

Trận sương muối năm 1994 ở Brasil đã phá huỷ phần lớn diện tích cà phê ở nước này, cộng hưởng đợt hạn hán kéo dài năm 1997 đã làm nguồn cung trên toàn thế giới sụp giảm mạnh, giá tăng đột biến đã khích lệ mở rộng diện tích cà phê ở Việt Nam, đầu tư kỹ thuật canh tác thâm canh, chuyên canh, … nhờ đó diện tích và sản lượng tăng nhanh, trung bình 23,9%/năm, đưa tổng diện tích cây cà phê năm 2000 lên đến 516,7 nghìn ha, chiếm 4,14% tổng diện tích cây trồng của Việt Nam, đứng thứ ba chỉ sau hai loại cây lương thực chủ lực là lúa (chiếm 61,4%) và ngô (chiếm 5,7%).

ca-phe-32Trong thập kỷ 90 thế kỷ XX, sản lượng tăng lên trên 20%/năm (và các năm 1994, 1995, 1996 sản lượng tăng thậm chí còn cao hơn với tỷ lệ lần lượt là 48,5%, 45,8% và 33%). Năm 2000, Việt Nam có khoảng 520 nghìn ha cà phê, tổng sản lượng đạt 800 nghìn tấn. Nếu so với năm 1980, diện tích cà phê của Việt Nam năm 2000 đã tăng gấp 23 lần và sản lượng tăng gấp 83 lần. Mức sản lượng và diện tích vượt xa mọi kế hoạch trước đó và suy đoán của các chuyên gia trong nước và quốc tế.

Cho đến nay sản lượng cà phê cả nước chiếm 8% sản lượng nông nghiệp, chiếm 25% giá trị xuất khẩu và là nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới với hai tỉnh có diện tích canh tác lớn nhất là ĐăkLăc và Gia Lai, mang lại việc làm ổn định, thu nhập cao cho hàng triệu người. Góp phần ổn định kinh tế xã hội ở những vùng xa xôi hẻo lánh, dân tộc ít người…

sản phẩm cà phê hạt nguyên chất

Các loại cà phê trên thế giới – cây cà phê Robusta
X
Add to cart